Xây dựng mạng ảo – Phần 2: Mạng thiết bị Cisco (tiếp theo)

06/05/2013 17:58

Như đã phân tích ở các bài trước, việc dùng các chương trình giả lập theo dạng lập trình có một yếu điểm là tạo ra những lỗi không thật. Nghĩa là có những lỗi bạn chỉ có thể gặp trong chương trình giả lập mà thôi.

Dynamips / Dynagen là một bộ chương trình cho phép bạn giả lập một hay nhiều Router trên máy tính cá nhân, sau đó nạp các hệ điều hành liên mạng (IOS) đang chạy trên các Router thực vào để học tập hay nghiên cứu. Trong trường hợp này, do việc giả lập sử dụng cùng hệ điều hành (IOS) với Router thật, nên bất kỳ thao tác nào chạy được trên Router thật cũng sẽ hoạt động được trên Router giả lập này, và các lỗi xảy ra, nếu có, cũng tương đồng giữa hai môi trường này.

Bước 1: Cài đặt chương trình

Để tiến hành cài đặt, bạn tải các chương trình WinPCap (http://www.winpcap.org/install/bin/WinPcap_4_0_2.exe), DynamipsDynagen (http://tinyurl.com/dynmip028), IOS7200 (http://tinyurl.com/7200ios) về máy tính, rồi tiến hành cài đặt theo thứ tự. Sau đó bạn chép tập tin IOS vào thư mục C:\Program Files\Dynamips\images\ (là thư mục con images nằm trong thư mục mà bạn đã cài đặt chương trình Dynamips).

Bước 2: Hiệu chỉnh tập tin .net

Muốn tạo ra một mạng đơn giản gồm có hai Router nối với nhau bằng cổng Serial, ta thực hiện các bước như sau. Trước tiên, bạn vào thư mục C:\Program Files\Dynamips\sample_labs\simple1 rồi mở tập tin simple1.net ra để hiệu chỉnh bằng cách bấm phải chuột trên đó rồi chọn Open with -Wordpad. Nội dung mặc định của tập tin là:

# Simple lab

[localhost]

[[7200]]

image = \Program Files\Dynamips\images\c7200-jk9o3s-mz.124-7a.image

npe = npe-400

ram = 160

[[ROUTER R1]]

s1/0 = R2 s1/0

[[ROUTER R2]]

# No need to specify an adapter here, it is taken care of

# by the interface specification under Router R1

Tập tin ví dụ mẫu này lưu việc cấu hình kết nối giữa các Router để tạo ra một bài lab ảo. Về cấu trúc, nó cũng tương tự như các tập tin .INI trong Windows. Lưu ý rằng, trong tập tin này, các dòng bắt đầu bằng dấu # là các dòng ghi chú, nên bạn có thể không cần quan tâm đến chúng, chẳng hạn như dòng đầu tiên, # Simple lab, chỉ dùng ghi chú lại phần tên tập tin.

Tham số kế tiếp [localhost] dùng để xác định máy tính nào sẽ chạy phần chương trình Dynamips, là chương trình nền cho bộ giả lập này. Điều đó có nghĩa là bạn có thể cho chương trình nền Dynamips chạy trên một máy chủ mạnh, còn các máy con thì chỉ cần chạy Dynagen, là các phần giao diện với người sử dụng, và kết nối chung vào một chương trình nền Dynamips đó. Khi đó, bạn sẽ phải đặt địa chỉ IP hay tên máy tính chạy Dynamips vào tham số này. Nhưng trong bài ví dụ mẫu, chúng ta sẽ chạy chương trình nền Dynamips trên cùng máy tính với Dynagen, do đó chúng ta sẽ xác định nơi chạy Dynamipslocalhost.

Tham số [[7200]] ở ngay phía dưới xác định các tham số mặc định cho dòng Router 7200 mà chúng ta sẽ sử dụng trong việc thiết lập mạng. Trong đó bao gồm ba giá trị chính là image, nperam, nhưngbước đầu chưa quen, bạn nên giữ nguyên các giá trị này. Mục image xác định tập tin IOS sẽ dùng để nạp vào router, do vậy nếu bạn tải một tập tin IOS có tên khác với tên mặc định đang được cấu hình, thì bạn phải sửa lại tham số này cho đúng chính xác từng ký tự với tên IOS mới. Nếu bạn dùng Dynamips/Dynagen trên Linux, bạn có thể bỏ dòng image này và sử dụng dòng image phía dưới.

Riêng mục ram là tham số quy định dung lượng vùng nhớ được phân cho mỗi router thì bạn có thể thay đổi tùy theo nhu cầu. Nhưng bạn nên nhớ rằng nếu dùng quá ít ram cho router thì router sẽ hoạt động chậm, còn phân quá nhiều bộ nhớ cho router thì máy tính dùng tạo router ảo sẽ bị thiếu ram dành cho hoạt động của mình. Ngoài ra, mỗi IOS (hệ điều hành router) cũng đòi hỏi một dung lượng ram tối thiểu để có thể hoạt động được, ví dụ như router 7200 cần 160Mb.

image = \Program Files\Dynamips\images\c7200-jk9o3s-mz.124-7a.image

# On Linux / Unix use forward slashes:

# image = /opt/7200-images/c7200-jk9o3s-mz.124-7a.image

npe = npe-400

ram = 160

Tiếp theo, ta quan sát dòng tham số ngay phía dưới khóa [[ROUTER R1]]. Dòng này cho biết cổng s1/0 của Router R1 nàysẽ kết nối sang cổng s1/0 của Router R2, còn mục [[ROUTERR2]] thì không cần cấu hình gì cả, vì đã thực hiện trên Router R1.

Bước 3: Khởi động chương trình và các Router

Các Router và sơ đồ mạng đã cấu hình theo tập tin simple1.net sẽ vẫn chưa xuất hiện cho đến khi bạn kích hoạt hai chương trình DynamipsDynagen này. Bạn phải khởi động chương trình Dynamips trước bằng cách chạy tập tin dynamips-start.cmd trong thư mục cài đặt ban đầu để mở một cửa sổ dòng lệnh. Sau đó bạn bấm kép chuột vào tập tin simple1.net mà ta vừa hiệu chỉnh ở bước trên để mở tiếp một cửa sổ dòng lệnh thứ hai.

Đợi đến khi quá trình khởi động hoàn tất, bạn đánh vào cửa sổ Dynagen lệnh console R1. Cửa sổ kết nối vào cổng Console (là cổng chính dùng giao tiếp để điều khiển thiết bị) của Router R1 sẽ hiện ra để bạn bắt đầu việc điểu khiển Router. Bạn gõ thêm lệnh console R2 để mở tiếp cửa sổ cấu hình cổng console Router R2. Như vậy giờ đây bạn đã có thể bắt đầu bài tập của mình với một sơ đồ mạng đơn giản. Các sơ đồ mạng phức tạp hơn cũng có thể được tạo ra với cách làm tương tự trên tập tin .net.

Bước 4: Tối ưu hóa nguồn tài nguyên hệ thống

Bạn để ý rằng, dù mới chỉ dùng một sơ đồ mạng đơn giản với hai router, thế nhưng khi sử dụng tiện ích Task Manager để kiểm soát thì CPU sử dụng đã bị đẩy lên đến mức tối đa. Điều đó cũng có nghĩa là không còn chương trình nào có thể hoạt động ổn định trong hệ thống.

Để giải quyết tình trạng này, bạn phải thực hiện việc tối ưu hóa bộ chương trình Dynamips/ Dynagen theo cách sau:

Đầu tiên, bạn phải tắt các Router khác, sao cho chỉ còn duy nhất một Router R1 hoạt động. Lệnh tắt Router R2 thực hiện trong cửa sổ Dynagen sẽ là stop R2 . Nếu còn các Router khác, bạn cũng tiến hành tắt tương tự. Kế tiếp bạn tiến hành Telnet vào Router R1 bằng lệnh telnet R1.

Giờ thì bạn đã có thể tiến hành tính toán thời gian nghỉ của các Router ảo để cho CPU “thư giãn”. Ta dùng lệnh idlepc get R1 thực hiện việc này. Kết quả thu được sẽ là một danh sách với nhiều lựa chọn thời gian khác nhau. Lựa chọn tốt nhất là mục có dấu *, vì thế nên bạn sẽ nhập vào con số của mục có dấu * vào phía sau dòng Enter the number of the idlepc value to apply [1-10] or ENTER for no change: rồi nhấn Enter.

Nếu chờ một lúc mà bạn vẫn chưa thấy mức độ sử dụng CPU giảm xuống, bạn phải tiến hành chọn lại một mục khác. Để hiện lại danh sách các mục chọn, bạn dùng lệnh idlepc show R1. Lần lượt chọn cho đến khi nào bạn thấy mức độ CPU giảm xuống rất nhiều thì có nghĩa là bạn đã thành công. Để lưu lại phần tối ưu hóa CPU cho Router R1 ta dùng lệnh idlepc save R1 db. Hoặc bạn cũng có thể lưu phần tối ưu CPU này làm cấu hình mặc định cho Router bằng lệnh idlepc saveR1 default.

Bước 5: Cài thêm giao diện đồ họa GNS3

Giải quyết các khó chịu về việc phải thực hiện thay đổi cấu hình bằng dòng lệnh và hiệu chỉnh các tập tin .net trong Dynamips/Dynagen, sản phẩm GNS3 đã được đưa ra với giao diện đồ họa kết nối với bộ sản phẩm này. Bạn có thể tải GNS3 từ địa chỉ http://nchc.dl.sourceforge.net/project/gns-3/GNS3/0.6.1/GNS3-0.6.1-bin-win32.zip

Sau khi tải về, bạn khởi động chương trình GNS3 và có được một màn hình với bốn vùng chính. Lần đầu tiên chạy GNS3, bạn sẽ có một tiện ích hỗ trợ cấu hình gồm hai bước. Bạn chọn bước 1 rồi chọn mục Dynamips, trong phần Settings – Excutable path , bạn bấm nút Browse rồi trỏ vào tập tin trong thư mục chứa Dynamips mà bạn đã cài. Sau đó bạn nhấn nút Test để kiểm tra thử thư mục và tập tin đã chọn có kết hợp tốt với GNS3 hay không. Mục cấu hình số 2 sẽ hỗ trợ bạn thêm các tập tin IOS khác vào hệ thống giả lập.

Sau khi hoàn tất mọi cấu hình ban đầu, từ bây giờ, bạn đã có thể tạo ra các sơ đồ mạng tùy ý bằng cách kéo thả các Router từ danh sách Node Type bên trái vào vùng thiết kế ở giữa. Bạn cũng có thể tạo các kết nối từ nút chức năng Add a link, sau đó bấm vào Router thứ nhất rồi kéo rê sang Router thứ hai… Muốn cấu hình Router nào, bạn bấm phải chuột trên Router đó rồi chọn Console. Tương tự, muốn thực hiện tối ưu hóa CPU ta cũng bấm phải chuột trên Router rồi chọn Idle PC. Muốn sao lưu lại sơ đồ mạng đã thiết kế, bạn dùng menu File‑Save, rồi lưu nó lại thành các tập tin .net. Muốn mở lại các sơ đồ đã lưu, bạn dùng menu File‑Open.

THANH DUY – TUYẾT PHONG

Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang