Vết chân chim cánh cụt

10/04/2011 17:00

Đầu tháng 4/2011, Tổ chức Linux Foundation bắt đầu tiến hành những hoạt động chào mừng 20 năm ngày ra dời hệ điều hành Linux, đánh dấu sự khởi đầu của trào lưu nguồn mở (open source).

Trào lưu nguồn mở xuất phát từ công nghệ phần mềm máy tính, lan rộng qua nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Thoạt tiên, "nguồn mở" dường như là hiện tượng nhất thời, không tự nhiên. Thực ra, đó là dòng chảy tất yếu của cuộc sống mà những rào cản nhân tạo không thể ngăn chặn.

Ngày 25/8/2011 là một trong những mốc thời gian được chọn để chào mừng tuổi hai mươi của Linux vì hai mươi năm trước, ngày 25/8/1991, Linus Torvalds, sinh viên của Đại học Helsinki (Phần Lan), gửi thư đến nhóm thảo luận của những người dùng hệ điều hành Minix để thông báo về dự án xây dựng phần lõi của hệ điều hành mới:

"Xin chào mọi người đang dùng Minix. Tôi đang làm một hệ điều hành miễn phí (chỉ là sở thích thôi, không lớn và chuyên nghiệp như GNU đâu) cho loại máy tính AT 386 (486). Tôi bắt đầu làm từ tháng Tư và bây giờ nó sắp chạy được rồi. Vì hệ điều hành của tôi hơi giống Minix (có cùng cách sắp xếp vật lý của hệ thống tập tin), tôi mong các bạn cho biết những gì mình thích hay không thích ở Minix. Tôi đang chuyển BASH và GCC lên hệ điều hành mới. Mọi việc khá ổn. Hoan nghênh mọi đề nghị từ các bạn nhưng tôi không hứa sẽ thực hiện tất cả đâu nhé".

Phần mềm BASH và GCC mà Torvalds nhắc đến trong thư là hai phương tiện quan trọng, cần thiết cho việc lập trình, được tạo ra từ dự án GNU của Tổ chức Phần mềm Tự do (Free Software Foundation - FSF). Richard Stallman - người khởi xướng FSF - dự định xây dựng một hệ điều hành cho máy tính cá nhân mang tên GNU, có chức năng tinh tế ngang với hệ điều hành Unix của máy tính lớn và dự định công khai mã nguồn của hệ điều hành. Stallman dùng tiền riêng của ông để trả lương cho một nhóm lập trình nhằm xây dựng phần lõi của hệ điều hành GNU. Tuy nhiên, việc xây dựng phần lõi GNU không suôn sẻ, kéo dài với nhiều trục trặc.

Torvalds nhớ lại: "Nếu ngày đó có sẵn phần lõi của hệ điều hành GNU thì tôi đã không thực hiện dự án của mình". Từng làm quen với Unix đắt tiền trên máy tính MicroVAX ở trường đại học, Torvalds mong muốn có được hệ điều hành tương tự trên máy tính AT 386 của anh tại nhà (chủ yếu để anh chơi trò Prince of Persia). Với Torvalds, hệ điều hành DOS cho máy tính cá nhân quá thô sơ, chỉ là giải pháp giá rẻ tạm thời. Trên tất cả, Torvalds muốn thử một lần tự tạo ra hệ điều hành cho máy tính của mình, dù là đơn sơ.

Ngày ấy, việc xây dựng hệ điều hành chỉ được giảng dạy trong ngành khoa học máy tính ở mức đại cương. Năm 1976, giáo sư John Lion (Đại học New South Wales, Úc) biên soạn quyển sách Diễn giải Unix 6 (Lions' Commentary on Unix 6th Edition) để giảng dạy cấu trúc hệ điều hành. Quyển sách của Lion trình bày nhiều đoạn mã nguồn của Unix trích từ tài liệu của trung tâm nghiên cứu Bell Labs (Mỹ). Khi Unix 7 ra đời với tiềm năng thương mại to lớn, Công ty AT&T - chủ nhân của Bell Labs - quyết định giữ kín bí mật công nghệ, ngăn cấm việc tái bản quyển sách của Lion, ngăn cấm việc trình bày mã nguồn Unix trong mọi giáo trình, khiến cho việc giảng dạy cấu trúc hệ điều hành trở lại tình trạng thuần túy lý thuyết.

Thế nhưng dòng chảy cuộc sống vẫn tìm ra lối thoát. Năm 1987, giáo sư Andrew Tanenbaum (Đại học Vrije, Hà Lan) tự xây dựng Minix - hệ điều hành đơn giản theo lề lối của Unix - để minh họa cho những bài giảng của ông về cấu trúc hệ điều hành. Quyển sách Các hệ điều hành (Operating systems) của Tanenbaum diễn giải chi tiết mã nguồn Minix. Dù vào lúc ấy, Tanenbaum chỉ cho phép sử dụng mã nguồn Minix trong việc dạy học, Minix đã đáp ứng cơn khát của giới sinh viên ngành khoa học máy tính ở nhiều nước, trong đó có Torvalds.

Ngày 5/10/1991 được xem là ngày khai sinh Linux vì đó là ngày Torvalds đưa toàn bộ mã nguồn phần lõi của hệ điều hành mới lên một máy chủ FTP (nic.funet.fi) để mọi người tham khảo, góp ý. Torvalds đặt tên cho công trình của mình là Freix (phát âm như "freaks", vĩ tố "ix" lấy từ tên Unix). Người quản lý máy chủ FTP (bạn của Torvalds) không thích tên Freix, tự ý đổi thành Linux (phát âm như tên Linus, vĩ tố "x" lấy từ tên Unix).

Như một lời cảm ơn dự án GNU, Torvalds áp dụng điều lệ GPL (GNU Public License) cho việc sử dụng mã nguồn Linux, theo đó mọi người có thể sửa đổi, phát triển mã nguồn nhưng phải công khai mã nguồn mới.

Linus Torvalds

Tuy công khai mã nguồn Linux, Torvalds giữ quyền sở hữu tên gọi Linux. Chỉ hệ điều hành dùng phần lõi do chính anh phát hành mới được mang tên Linux. Torvalds lấy chim cánh cụt làm biểu tượng cho nhãn hiệu Linux. Anh nhờ một người bạn vẽ biểu tượng với yêu cầu: chim cánh cụt phải trông thật dễ thương, có vẻ thỏa mãn và... khờ khạo. Nhiều người cho rằng chim cánh cụt chậm chạp, thô thiển, không thích hợp với Linux và quyết định của Torvalds là sai lầm về mặt tiếp thị. Nhưng Torvalds không quan tâm đến tiếp thị. "Chim cánh cụt không có ý nghĩa gì đặc biệt. Tôi thấy chim cánh cụt trong một lần đến vườn thú ở Úc và thích chúng ngay. Tôi bị một con đớp vào tay khi tôi định vuốt ve nó".

Dù Torvalds không đặt mục tiêu cao xa, Linux nhanh chóng phát triển thành hệ điều hành hoàn chỉnh. Linux có các chương trình tiện ích và chương trình điều khiển thiết bị (driver) cần thiết, thích ứng với nhiều cấu hình máy khác nhau nhờ sự cộng tác của hàng trăm, có lúc đến hàng ngàn người khắp thế giới, từ những lập trình viên dày dạn kinh nghiệm đến những sinh viên có mục tiêu như Torvalds: muốn vận dụng kiến thức của mình để góp phần tạo ra một hệ điều hành thực sự, muốn giải quyết những vấn đề mà có lẽ giới chuyên nghiệp đã từng giải quyết trong vòng bí mật.

Khi Linux được giới truyền thông chú ý, Torvalds nhanh chóng được tôn vinh như một người hùng, dám đương đầu với Microsoft hùng mạnh. Như thường lệ, xuất hiện luồng ý kiến ngược lại trên báo chí phương Tây, quy kết Torvalds là người theo lý tưởng cộng sản, dám thách thức chủ nghĩa tư bản! Khi Torvalds sang Mỹ làm việc (để rồi sau này trở thành công dân Mỹ), anh thỉnh thoảng nhận được những bức thư điện tử với lời lẽ khiêu khích: "Hãy trở về Phần Lan và thôi tranh việc với người Mỹ". Torvalds chỉ mỉm cười: "Những người này đã quên nguyên tắc tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản".

Nhìn chung, giới truyền thông ưa thích mẫu người như Torvalds hơn Stallman. Hình ảnh Torvalds trẻ trung, mỉm cười thân thiện, rất thích hợp cho những trang bìa.

Torvalds không muốn trở thành một biểu tượng của trào lưu nguồn mở. Trả lời câu hỏi đầy ẩn ý rằng anh có muốn làm việc cho Microsoft, Torvalds đáp ngay: "Tôi không bao giờ từ chối một đề nghị về công việc chỉ vì đó là đề nghị của Microsoft. Tôi không có niềm tin mù quáng rằng Microsoft là xấu xa và Bill Gates là quỷ dữ".

Bình thản với vinh quang chóng vánh, Torvalds luôn nhấn mạnh rằng tất cả những việc anh làm chỉ là vì vui thích, không vì mục tiêu nào khác. "Tôi đã làm việc nhiều để phát triển chức năng của phần lõi nhưng còn hàng trăm người khác xây dựng những chương trình điều khiển thiết bị rất quan trọng nhưng không được nêu tên vì giới báo chí chỉ trông thấy tôi. Thực ra tôi hơi ích kỷ. Tôi đưa ra Linux vì không muốn nhức đầu với những phần việc xương xẩu. Tôi cần sự giúp đỡ".

Những đề nghị bổ sung chức năng cho Linux tới tấp đến với Torvalds, đặt câu hỏi vì sao Linux không có chức năng này hoặc chức năng kia. Câu trả lời của Torvalds luôn đơn giản nhưng thường làm phật ý người hỏi: "Vì chưa có ai làm. Mã nguồn Linux đã có sẵn, bạn có thể thực hiện thêm chức năng mà bạn thích". Trong nhiều cuộc phỏng vấn, người ta luôn hỏi Torvalds khi nào có phiên bản Linux kế tiếp, câu trả lời của Torvalds luôn ngắn gọn: "Khi nào chúng tôi làm xong". Những người muốn cộng tác thường hỏi Torvalds cần phát triển chức năng nào cho Linux và nhận được câu trả lời: "Bạn cứ làm việc nào mà bạn thích".

Câu trả lời của Torvalds diễn đạt bản chất của phương pháp nguồn mở. Mọi việc làm là tự nguyện, đáp ứng mục tiêu riêng của mỗi người tham gia. Mỗi người chỉ làm những việc mà họ yêu thích. Không có kế hoạch, không có hạn định thời gian. Phần mềm nguồn mở chỉ được phát hành khi những người thực hiện yên tâm về chức năng mà họ muốn, không có chuyện "chạy nước rút" cho đúng tiến độ, không có sức ép làm thêm giờ như ở các công ty phần mềm. Điều này lý giải một điều khó hiểu đối với nhiều người: phần mềm nguồn mở có thể có chất lượng ngang ngửa (và có khi vượt hơn) phần mềm thương mại cùng loại.

Tuy nhiên, khi các công ty lớn (IBM, Google, Oracle,...) quan tâm đến phần mềm nguồn mở, khi đội ngũ những người lĩnh lương để xây dựng phần mềm nguồn mở ngày càng đông, phương pháp phát triển phần mềm nguồn mở đã ít nhiều đổi thay.

Theo "lý thuyết" của Torvalds về cuộc sống, hoạt động của con người thường trải qua ba cấp: hoạt động để sống còn, hoạt động vì địa vị và hoạt động vì vui thích. Trong đó, hoạt động vì vui thích là hoạt động có tính sáng tạo cao nhất. Khi bước vào đời, Torvalds đã chọn hoạt động ở "cấp cao" trước khi tính đến hoạt động "cấp thấp" để sống còn, bên vợ và ba con thơ dại.

Dù vậy, Torvalds vẫn luôn ví mình như cậu bé "Linus mút tay" trong truyện tranh Peanuts. Chú chim cánh cụt hiền hòa vẫn chỉ tập trung vào từng bước đi, đều đặn và bền bỉ, không nhanh hơn hoặc chậm hơn.

NGỌC GIAO

Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang