35 năm bảng tính điện tử

Từ VisiCalc đến Excel

19/07/2013 16:25

Ý tưởng về bảng tính đến với Dan Bricklin trong một ngày mùa xuân năm 1978, từ đó hình thành phần mềm bảng tính đầu tiên mang tên VisiCalc. Bảng tính Excel ngày nay về cơ bản vẫn giống VisiCalc.

Trước thời đại Internet, người bình thường cần đến máy tính cá nhân chủ yếu vì chức năng soạn thảo văn bản thuận tiện. Khi đó, máy tính cá nhân tựa như máy đánh chữ tân kỳ. Nhưng bạn có biết chăng, vào thập niên 1980, giới doanh nghiệp "vồ vập" máy tính cá nhân như một loại máy có thể giúp họ tính toán cực nhanh các phương án kinh doanh: với bảng dữ liệu hiển thị trên màn hình, chỉ cần thay đổi trị số ở chỗ này của bảng, kết quả hiện ra ngay ở chỗ khác của bảng. Nhiều người trong số họ không để ý rằng chính phần mềm "bảng tính" làm cho máy có thể thực hiện chức năng tuyệt vời như vậy.

VisiCalc

Ý tưởng về bảng tính đến với Dan Bricklin trong một ngày mùa xuân năm 1978, khi anh đang là sinh viên cao học của Trường Kinh doanh Harvard. Để thực hiện một đề án môn học, Bricklin cần phân tích dữ liệu trên một "bảng lớn" (spreadsheet) có nhiều biến số. Với chiếc máy làm tính cầm tay (calculator), Bricklin vất vả thực hiện rất nhiều phép tính khi muốn khảo sát tác động của các biến số đối với bài toán kinh doanh. Anh chợt nghĩ: giá như có một chiếc máy với màn hình đủ lớn để trình bày trọn vẹn bảng dữ liệu, có thể dùng chuột (Bricklin từng được xem Doug Engelbart trình diễn cách dùng chuột máy tính trong một hội nghị) để nhập trị số hoặc công thức tính vào các ô của bảng (y như khi thầy giáo của anh trình bày trên bảng đen) và nhận được ngay câu trả lời trên màn hình đó, đại khái như "10% là rất tốt!" (Bricklin chỉ "dám" mơ đến khả năng tính phần trăm).

Ước mơ ấy đeo đuổi Bricklin cho đến mùa hè năm 1978. Trong một lần đạp xe trên đường, anh quyết định... thôi mơ ước và tự mình thực hiện điều đó trên máy tính cá nhân. Tạm gác ý nghĩ về màn hình lớn và con chuột, Bricklin chấp nhận màn hình nhỏ và hai phím "mũi tên" của máy Apple II (phải nhấn thanh dài trên bàn phím để đổi phương di chuyển từ ngang thành dọc). Lập trình bằng ngôn ngữ BASIC, Bricklin có được một bảng tính đơn giản, chỉ làm tính với số nguyên và chưa có chức năng "cuộn màn hình".

Để bảng tính có được những chức năng mong muốn, Bricklin nhờ cậy người bạn của anh - Bob Frankston, đang học ở MIT – giúp sức. Lập trình bằng hợp ngữ (Assembly), Frankston tạo ra chương trình bảng tính chỉ chiếm 20K trên bộ nhớ và chạy rất nhanh. Bricklin đặt tên cho chương trình là VisiCalc, viết tắt của "Visible Calculator", nhằm diễn đạt khả năng "tính toán trực quan" của bảng tính.



Màn hình VisiCalc trên máy PC.


Bob Frankston (trái) và Dan Bricklin (1982).

Đầu năm 1979, Bricklin và Frankston lập công ty Software Arts để kinh doanh sản phẩm VisiCalc. Tuy nhiên, việc đăng ký bằng sáng chế cho VisiCalc không được chấp thuận do luật thời ấy tại Mỹ xem phần mềm đồng nhất với giải thuật toán học, mà giải thuật toán học lại được đánh đồng với... định luật tự nhiên!

Tháng 6-1979, buổi công bố chính thức VisiCalc được tổ chức đơn giản tại New York không tạo được "tiếng vang" cần thiết. Khách tham dự dường như chưa hiểu ý nghĩa thực sự của VisiCalc, có lẽ chỉ trừ một chàng trẻ măng mang tên Bill Gates đến hỏi chuyện Bricklin về sản phẩm.

Thành công rồi cũng đến với VisiCalc sau chiến dịch quảng cáo hiệu quả do Dan Fylstra – người sáng lập tạp chí Byte, bạn của Bricklin – thực hiện. Trên một triệu bản VisiCalc được bán ra. Tuy nhiên, Bricklin và Frankston đã chậm chân trong việc phát triển VisiCalc trên máy IBM PC. Sau vài năm vinh quang, VisiCalc đành nhường ngôi quán quân cho Lotus 1-2-3.

Lotus 1-2-3

Trên tay bế con nhỏ, Jon Sachs chậm rãi đi lại trong khuôn viên hội chợ Comdex mùa thu 1982, lo lắng theo dõi phản ứng của công chúng đối với phần mềm bảng tính Lotus 1-2-3 vừa được giới thiệu, phần mềm mà anh cùng với Mitch Kapor tạo nên sau một năm "lao tâm khổ tứ". Nỗi lo của Sachs tan biến nhanh chóng khi số tiền khách hàng tại hội chợ đặt mua Lotus 1-2-3 tăng nhanh, đạt đến 3 triệu USD. Vượt lên trên VisiCalc, Lotus 1-2-3 chạy trên máy PC không chỉ cho phép lập bảng tính mà còn có thể vẽ đồ thị từ dữ liệu bảng tính trong chớp mắt và được dùng như một hệ cơ sở dữ liệu. Đó quả thực là "ba bước đến thành công", được diễn đạt bởi chính tên gọi 1-2-3.

Vốn là lập trình viên trên máy tính lớn, Sachs chỉ bắt đầu chuyển qua dùng máy PC khi "bị" Kapor lôi kéo vào việc xây dựng Lotus 1-2-3 với ý định "qua mặt" VisiCalc. Công ty của Kapor lúc ấy nhỏ xíu nhưng đã bán được vài ngàn bản Visiplot/Visitrend (phần mềm dùng kèm với VisiCalc để vẽ đồ thị và phân tích dữ liệu). Dù đặt mục tiêu xây dựng phần mềm phức tạp hơn VisiCalc, Kapor và Sachs quyết định vẫn lập trình bằng hợp ngữ, thay vì dùng ngôn ngữ Pascal đang phổ biến vào lúc ấy, để chương trình chạy nhanh hơn VisiCalc. Việc chọn hướng đi khó tạo nên khối lượng công việc hết sức nặng nề nhưng "quả ngọt" cuối cùng đã đến với Kapor và Sachs. Trong năm đầu phát hành Lotus 1-2-3, công ty Lotus của Kapor thu được 53 triệu USD. Cùng lúc ấy, số lượng máy PC bán ra tăng gấp 5 lần.

Với lợi nhuận tăng nhiều lần sau mỗi năm, Lotus nhanh chóng trở thành công ty lớn, đủ lực để mua lại công ty Software Arts và "kết liễu" VisiCalc vào năm 1985.




Màn hình Lotus 1-2-3 trên máy PC. Lotus 1-2-3 được phát hành chính thức ngày 26/1/1983.


Mitch Kapor (1983)

Sau thành công rực rỡ trên máy PC, Lotus đầu tư lớn vào dự án phần mềm bảng tính cho máy Apple Macintosh, nhằm tạo ra đột phá mới nhờ giao diện đồ họa (thiết bị điều khiển chủ yếu là con chuột). Động thái của Lotus khiến Bill Gates quan tâm đặc biệt vì nó đe dọa hệ điều hành MS-DOS của Microsoft trên máy PC. Cùng với việc đẩy mạnh dự án hệ điều hành Windows, Microsoft thực hiện giải pháp "đánh chặn": gấp rút xây dựng bảng tính Excel trên Macintosh.

Excel

Ngay từ năm 1980, Microsoft đã khởi dộng dự án phần mềm bảng tính Electronic Paper nhằm cạnh tranh với VisiCalc. Cuối năm 1980, khi vừa gia nhập Microsoft, Charles Simonyi – một "tài năng trẻ" người Hungary - trình lên Bill Gates kế hoạch đầy tham vọng: xây dựng đồng bộ các chương trình soạn thảo văn bản, bảng tính và cơ sở dữ liệu dựa trên một phần mềm lõi. Với phần mềm lõi, Microsoft có thể phát triển nhanh các chương trình ứng dụng trên những loại máy khác nhau, hoàn toàn sẵn sàng cho việc dùng giao diện đồ họa.

Được trao quyền lãnh đạo bộ phận phát triển ứng dụng, Simonyi triển khai ngay việc xây dựng phần mềm lõi và sửa đổi Electronic Paper thành chương trình bảng tính Multiplan. Multiplan được phát hành năm 1982, gồm hai phiên bản dùng cho Apple II và PC, nhưng chạy khá chậm, thua xa Lotus 1-2-3.

Để "chạy đua" với Lotus 1-2-3 trên Macintosh, Bill Gates quyết định xây dựng phần mềm bảng tính hoàn toàn mới mang tên Excel (thay vì cải tiến Multiplan) và giao "ấn tiên phong" cho Doug Klunder. Tháng 9-1985, phần mềm Excel 1.0 dùng cho Macintosh được phát hành và lập tức thành công vang dội do có nhiều ưu điểm so với Lotus 1-2-3.

Nhờ cấu trúc phần mềm lõi, Microsoft nhanh chóng sửa đổi Excel để có thể chạy trên Windows (tháng 10-1987). Excel là một trong những ứng dụng Windows đầu tiên được tung ra để thu hút người dùng đến với hệ điều hành mới. Cùng với chiến thắng của Windows, hai từ "bảng tính" ngày nay gần như đồng nghĩa với Excel.


Màn hình Excel 1.0 trên máy Macintosh.



Charles Simonyi (đứng, thứ nhất từ bên trái) và Doug Klunder (đứng, thứ hai từ bên phải) cùng nhóm phát triển phần mềm bảng tính của Microsoft (1983).


Rất tự tin với cặp mắt kính to quá khổ (thời trang của thập niên 1970), Bill Gates xuất hiện trên một mẩu quảng cáo cho Excel (1985).


Có người cho rằng việc đăng ký bằng sáng chế cho bảng tính VisiCalc không thành là một... điều may vì nếu ngược lại thì không có Excel. Lại có ý kiến nói rằng Excel về cơ bản vẫn giống VisiCalc, nếu như Excel không được phép giống với VisiCalc, có thể nhân loại đã thụ hưởng một Excel có tính sáng tạo cao hơn.

NGỌC GIAO

Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang