Samsung Galaxy Express: Đắt, chẳng... “xắt ra miếng”

29/05/2013 23:54

Là sự kết hợp vừa phải và thú vị giữa những tính năng phần cứng với hệ điều hành Android 4.1, song Galaxy Express lại khiến người dùng khó có thể lựa chọn nhanh chóng như tên gọi "Express".

Thiết kế

Samsung Galaxy Express là một trong những mẫu máy được “đúc cùng khuôn” chiếc điện thoại chiến lược năm 2012 của hãng điện tử Hàn Quốc, với dáng tròn trịa và sử dụng chất liệu nhựa dẻo kết hợp đường viền kim loại quen thuộc. Mặt sau của máy được làm bằng chất liệu nhựa bóng, khi cầm càng lâu thì điện thoại càng dễ... trượt khỏi tay. Kích thước của máy nằm ở giữa mức vừa phải và quá lớn, tuỳ vào cảm nhận và kích cỡ bàn tay của từng người sử dụng.

Galaxy Express có màn hình Super AMOLED 4,5 inch, cho góc nhìn rất rộng, độ phân giải và độ sáng cao. Khả năng hiển thị dưới ánh sáng mặt trời cũng rất tốt. Màn hình của Galaxy Express không sắc nét như ở nhiều mẫu máy có độ phân giải 720p hay 1080p - trong đó có những mẫu điện thoại cùng mức giá, hoặc cao hơn một chút so với mẫu điện thoại nầy.


Những phím chức năng nằm phía dưới màn hình của máy cũng không khác nhiều so với những mẫu điện thoại khác của Samsung: một phím Home vật lý hình chữ nhật với góc tròn nằm chính giữa, hai phím cảm ứng Back và Menu nằm ở hai bên. Với vỏ màu trắng, hai phím cảm ứng ấy hơi khó nhìn ra hơn so với phiên bản máy có màu vỏ tối hơn. Các phím chức năng có kích cỡ và khoảng cách vừa phải, để người dùng cảm thấy thoải mái khi nhấn.

Loa nghe điện thoại cùng cảm biến độ gần, cảm biến ánh sáng, camera phụ (1,3 megapixel) được bố trí ở phía trên màn hình. Phía trên đỉnh máy là vị trí của giắc tai nghe 3,5mm, cùng micro phụ để lọc ồn và thu âm stereo khi quay video. Cổng microUSB cùng micro chính ở phía dưới của máy. Samsung sử dụng cổng microUSB đạt chuẩn MHL để người dùng có thể xuất hình ảnh qua tín hiệu HDMI và âm thanh nhiều kênh thông qua bộ chuyển đổi đặc biệt.

Phím nguồn/khóa được bố trí ở cạnh phải. Phím điều chỉnh âm lượng nằm ở cạnh trái. Các phím nầy đều có kích thước tương đối nhỏ, song người dùng vẫn có thể nhấn dễ dàng. Galaxy Express không có phím camera chuyên dụng vật lý, gây khó khăn khi người dùng muốn chụp ảnh (phải vừa cố giữ chặt điện thoại, vừa “với” phím chụp ảnh ảo trên màn hình).

Mặt sau của máy không có nhiều chi tiết: camera chính nằm phía trên, bên phải là đèn flash LED, phía góc dưới bên phải là khe loa ngoài. Nắp nhựa sau của Galaxy Express rất dễ mở. Phía dưới là khe cắm thẻ microSD và thẻ microSIM. Người dùng có thể tháo gỡ nóng thẻ microSD, trong khi cổng microSIM bị chặn bởi viên pin rời của máy.

Hoạt động

Express có cấu hình không thuộc dạng “khủng khiếp” như những mẫu điện thoại Samsung Galaxy khác. Với vi xử lý lõi đôi 1,2GHz và 1GB RAM, pin rời có dung lượng đến 2.000mAh, giúp thời gian sử dụng Galaxy Express lên đến 59 giờ ở mức dùng trung bình. Thời gian đàm thoại thông qua kết nối 3G lên đến 10 giờ, tương đương với thời gian xem video, còn thời gian lướt web của máy ở mức 7 giờ 9 phút. Hiệu suất làm việc của hệ thống phần cứng trên Galaxy Express khá ấn tượng, với sức mạnh gần tương đương Galaxy S3 dù cấu hình không hề bằng.

Hệ điều hành Android 4.1.2 trên Galaxy Express mang “hương vị” đặc trưng của giao diện Nautre UX, vốn đã quen thuộc với người sử dụng điện thoại Samsung Galaxy từ mẫu máy S3. Những nét quen thuộc đó bắt đầu từ màn hình khóa với tính năng “vuốt từ bất cứ đâu để mở”, với hiệu ứng hình ảnh và âm thanh mô phỏng mặt nước khi chạm vào, cùng ba biểu tượng ứng dụng để khởi động nhanh từ màn hình khóa. Người dùng hoàn toàn có thể tùy chỉnh ba biểu tượng ấy.

Màn hình chính của giao diện gồm bảy trang ảo (có thể thêm/bớt, bố trí lại vị trí, hay chọn màn hình “chính” sẽ hiển thị khi nhấn nút Home). Thanh biểu tượng phía dưới màn hình hiển thị trên tất cả trang ảo và có thể chứa năm biểu tượng, gồm cả biểu tượng mở danh sách ứng dụng nằm phía bên phải. Người dùng có thể thay thế những biểu tượng đó, trừ mỗi biểu tượng mở danh sách ứng dụng.

Các ứng dụng trong danh sách ứng dụng được xếp theo thứ tự abc với dạng lưới hoặc danh sách, hoặc cũng có thể bố trí theo lưới tuỳ ý người dùng. Danh sách ứng dụng còn có thẻ hiển thị các tiện ích trên màn hình chính (widget), cho phép xem những ững dụng đã tải về thông qua biểu tượng tải xuống (nằm cùng vị trí với các thẻ còn lại). Thanh thông báo trạng thái được Samsung khai thác triệt để bằng cách đưa lên những biểu tượng thiết lập nhanh các tuỳ chọn như bật/tắt Wi-Fi, GPS, Bluetooth, xoay màn hình... Bên cạnh đó, người dùng cũng dễ dàng thay đổi thiết lập độ sáng màn hình thông qua một thanh trượt trên phần thông báo trạng thái.

Danh bạ điện thoại trên Galaxy Express được thiết kế lại với những tính năng tiện lợi hơn so với danh bạ gốc, người dùng có thể vuốt một liên lạc sang trái hoặc phải để nhắn tin hoặc gọi điện cho liên lạc đó. Bàn phím quay số hỗ trợ cả tính năng quay số thông minh giúp gợi ý liên lạc khi nhập vào một vài số, cũng như cho phép điều khiển bằng giọng nói.

Một tính năng hấp dẫn khác của Galaxy Express mang tên Direct Call, cho phép bạn gọi điện lập tức đến một liên lạc khi đang xem thông tin hay tin nhắn của liên lạc ấy, bằng cách áp điện thoại vào tai.

Ứng dụng quản lý hình ảnh/video của máy là ứng dụng gốc được Samsung chỉnh sửa lại đôi chút theo tinh thần TouchWiz, sắp xếp hình ảnh/video có trên máy theo dạng lưới. Ứng dụng nầy cũng được “xã hội hóa” bằng cách tự động nhận diện khuôn mặt trong ảnh, để người dùng gắn thẻ với liên lạc có trong máy, từ đó cập nhật và hiển thị trạng thái, hay cho phép gọi điện/gửi tin nhắn nhanh chóng đến liên lạc được gắn thẻ trong ảnh.

Galaxy Express sử dụng cùng ứng dụng nghe nhạc như Galaxy S3, với công nghệ tăng cường âm thanh SoundAlive (cho phép giả lập âm thanh theo kênh 7.1), xếp thư viện nhạc trên máy theo nhiều cách khác nhau, và một trong số đó là Music square. Đó là cách sắp xếp dựa theo “cảm xúc” của bài hát trên một ma trận ô vuông, chi phối bởi bốn yếu tố “kích thích”, “êm đềm”, “say đắm”, và “hân hoan”. Ứng dụng ấy cũng hỗ trợ DLNA, cho phép người dùng có thể truy cập đến những nguồn lưu trữ khác trong hệ thống mạng nội bộ, tức không bị giới hạn bởi số bài hát có trên điện thoại.

Khả năng hỗ trợ video của Galaxy Express thuộc loại tương đối đáng nể khi hỗ trợ phần lớn định dạng video phổ biến, như AVI (dạng XviD), MP4 và WMV với độ phân giải thậm chí đến 1080p, cũng như hỗ trợ tìm và hiển thị phụ đề phim. Tuy nhiên, chưa rõ tại sao ứng dụng ấy lại gặp vấn đề khi xử lý dạng nén DivX và MOV. Định dạng MOV vốn không quá phổ biến nên không có nhiều vấn đề, song việc không hỗ trợ tốt DivX lại là điểm bất lợi, do nhiều video được nén theo chuẩn nầy.

Camera chính của Galaxy Express chỉ có độ phân giải 5 megapixel, cùng đèn flash LED hỗ trợ chụp ảnh trong điều kiện thiếu sáng. Hai thanh công cụ ở trái và phải của ứng dụng chụp ảnh/quay phim cho phép thao tác nhanh chóng. Chất lượng ảnh chụp không cao, với nhiều hạt nhiễu trong ảnh, song độ chi tiết vẫn được duy trì đầy đủ. Màu sắc ảnh không rực rỡ, chỉ ở mức chấp nhận được.

Kết luận

Galaxy Express có hiệu suất làm việc tương đối cao và thời gian sử dụng pin lâu. Lợi thế lớn của máy khi hỗ trợ kết nối LTE không thể phát huy tại Việt Nam khi hạ tầng mạng 4G trong nước chưa hề phổ biến.

Điều bất ngờ nhất là Galaxy Express có giá bán khá cao, thậm chí cao hơn cả Galaxy S3, trong khi cấu hình máy lại không hề “khủng khiếp” chút nào.

Thông số kỹ thuật

Kích thước: 132,2 x 69,1 x 9,3mm.
Trọng lượng: 139,1g.
Màn hình: Cảm ứng Super AMOLED, 16 triệu màu, 480 x 800 pixel, 4,5 inch.
Hệ điều hành: Android 4.1.2.
CPU: Lõi đôi 1,2GHz Krait.
Bộ nhớ: Bộ nhớ máy 8GB, hỗ trợ thẻ nhớ microSD đến 32GB, RAM 1GB.
Camera: 5Mpx, lấy nét tự động, đèn flash LED, quay video 1080p@30 khung hình trên giây.
Camera phụ: 1
,3Mpx.
Pin: Li-Ion 2
.000mAh.

Nguyễn Tiến
Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang