Màn hình thứ hai của điện ảnh

20/01/2015 08:25

Có bao giờ bạn nghĩ rằng đem điện thoại hoặc máy tính bảng vào rạp chiếu phim là việc cần làm để thưởng thức phim một cách... trọn vẹn? Có những nhà làm phim đã nghĩ như vậy.


Trong năm 2013, điện ảnh Hà Lan có ý tưởng độc đáo: khuyến khích người xem phim App tại rạp mang theo điện thoại cài sẵn ứng dụng mang tên App the Movie (trên Android/iOS) và chạy ứng dụng đó khi phim bắt đầu. Ứng dụng App the Movie có vài chức năng bình thường để quảng bá phim: cung cấp thông tin về diễn viên, một số ảnh chụp và trích đoạn (trailer) từ phim,... Chức năng quan trọng nhất của ứng dụng là hiển thị nội dung giống như màn hình điện thoại của nhân vật chính trong phim, mỗi khi nhân vật ấy nhìn vào màn hình điện thoại của mình.

Để hoạt động đồng bộ với phim đang chiếu, ứng dụng App the Movie "lắng nghe" âm thanh của phim, chiết xuất dữ liệu ẩn trong âm thanh để xác định phim đang ở thời điểm nào. Người xem không thể nhận biết sự tồn tại của dữ liệu ẩn trong âm thanh. Những người xem phim App trên đĩa DVD (phát hành tháng 12/2014) cũng dùng ứng dụng App the Movie theo cách như ở rạp.


Ứng dụng App the Movie.


Có thể xem App là phim viễn tưởng hoặc đúng hơn, phim kinh dị. Nhân vật chính của phim, cô sinh viên Anna (diễn viên Hannah Hoekstra), phát hiện một ứng dụng lạ được cài vào điện thoại của mình khi vừa thức giấc buổi sáng. Sau một đêm ngủ vùi vì "quá chén" trong một bữa tiệc, Anna không thể nhớ những ai đã chạm vào điện thoại của cô. Ứng dụng lạ mang tên Iris (có lẽ là cách viết ngược của... Siri) có khả năng trò chuyện với người dùng giống như Siri trên iPhone. Iris hỏi tên Anna và sở thích của cô. Nghĩ rằng Iris là ứng dụng vô hại, Anna trả lời thành thật.

Sau thời gian đầu tỏ ra có ích, Iris nhanh chóng chuyển qua giai đoạn "khủng bố". Iris lén lút ghi hình những giây phút riêng tư của Anna và phát lại những đoạn phim ấy ở những nơi, những lúc hoàn toàn bất ngờ đối với Anna: trên màn chiếu trong giờ học của Anna ở giảng đường, trên màn hình lớn của cửa hàng thiết bị điện tử mà cô ghé qua. Iris cũng quấy nhiễu những người có trong danh bạ điện thoại của Anna. Xấu hổ, hoảng loạn, Anna tìm cách gỡ bỏ ứng dụng Iris nhưng vô hiệu. Cô dần dần khám phá một âm mưu hiểm độc nhắm vào mình.


Diễn viên Hannah Hoekstra trong vai Anna (phim App - 2013).


Ứng dụng Iris quấy nhiễu Anna ở giảng đường (phim App - 2013).


Nỗi ám ảnh dị thường theo đuổi nhân vật chính mọi lúc, mọi nơi, bủa vây như một mê cung, vốn là yếu tố thường thấy trong thể loại phim kinh dị. Người viết kịch bản phim App đã dùng thủ pháp cũ với hình thức mới: trao vai phản diện cho một ứng dụng có trí khôn trên điện thoại, loại ứng dụng mà hầu như mọi người xem phim hiện nay đều ít nhiều quen thuộc. Đồng thời, phim App làm cho màn hình điện thoại (hoặc máy tính bảng) trở thành màn hình thứ hai (second screen), bổ sung cho màn hình lớn (màn hình thứ nhất). App được quảng bá như là phim đầu tiên có màn hình thứ hai.

Ngoài phim App, liệu có thể dùng màn hình thứ hai cho những phim khác? Người xem có thể thưởng thức phim App mà không cần đến màn hình thứ hai. Liệu có khi nào người xem phim nhất thiết phải có màn hình thứ hai?

Giáo sư Nitzan Ben Shaul(Khoa Điện ảnh và Truyền hình, Đại học Tel Aviv, Israel) từng đề xuất thể loại phim mới, cho phép người xem dùng thiết bị cá nhân để tác động vào diễn biến của phim. Phim sẽ diễn biến theo lựa chọn của số đông người xem. Shaul gọi đó là thể loại phim tương tác (interactive movie).

Shaul đã thử nghiệm ý tưởng của ông bằng cách viết kịch bản và dàn dựng phim Turbulance (2010). Phim có nhiều chỗ cho phép người xem trên PC/Mac/iPad lựa chọn diễn biến tiếp theo. Chẳng hạn, khi điện thoại trên tay diễn viên được thể hiện trong cận cảnh, có dấu hiệu phát sáng, kèm theo âm thanh đặc thù, người xem hiểu rằng đó là lúc lựa chọn. Nếu người xem chạm vào chiếc điện thoại trên màn hình, diễn viên sẽ gọi điện thoại và truyện phim chuyển hướng. Nếu người xem không chạm vào chiếc điện thoại trên màn hình, diễn viên sẽ không gọi điện thoại, sẽ không biết được điều gì đó và diễn biến tiếp theo dĩ nhiên sẽ khác. Tương tự, nếu người xem chạm vào ngăn kéo có dấu phát sáng trên màn hình, diễn viên sẽ mở ngăn kéo, phát hiện điều gì đó. Nếu người xem không làm gì cả, phim sẽ diễn biến "bình thường".

Người viết kịch bản phải có phương án cho mỗi lựa chọn, thời lượng của phim sẽ khác nhau, kết thúc của phim sẽ khác nhau tùy theo lựa chọn của người xem.

Phim Turbulance là câu chuyện về ba người bạn, trong đó có hai người yêu nhau, gặp lại nhau tại New York sau hai mươi năm bặt tin. Họ bị chia cách sau vụ bắt giam vì tham gia biểu tình tại Israel. Shaul muốn người xem phim được lựa chọn, như thể nói với thế hệ trẻ Israel rằng cuộc sống luôn có những lựa chọn và hãy lựa chọn. Shaul than phiền rằng tuổi trẻ Israel trong cuộc xung đột kéo dài đang bị "định hướng" với ý nghĩ rằng không còn lựa chọn nào khác cho tương lai của họ.

Shaul nói rõ rằng ý tưởng của ông xuất phát từ cảm hứng sau khi xem phim Sliding Doors (1998) với hai kịch bản diễn biến song song. Trong phim, sau khi nhân vật chính Helen (diễn viên Gwyneth Paltrow) vội vã xuống ga tàu điện ngầm ở London, kịch bản phim tách thành hai, được thể hiện xen kẽ. Trong kịch bản thứ nhất, Helen kịp bước lên tàu, lách qua cửa tàu đang khép lại. Trong kịch bản thứ hai, cửa tàu khép lại trước mặt Helen, cô lỡ chuyến cuối cùng, phải tìm phương tiện khác để về nhà. Helen tình cờ quen biết James (diễn viên John Hannah) theo cách riêng trong mỗi kịch bản. Hai kịch bản khác nhau có chung một đoạn kết: Helen và James vẫn yêu nhau, bất chấp... kịch bản, như thể "thiên duyên tiền định".

Ý tưởng phim tương tác vấp phải nhiều phản bác. Dường như đó là ý tưởng không đi đến đâu vì không ai thích phim đang xem cứ bị gián đoạn bởi việc chọn lựa. Cảm xúc do truyện phim tạo ra sẽ bị hủy hoại nếu người xem phải rời mắt khỏi màn hình thứ nhất để phân vân trên màn hình thứ hai.

Nhiều nhà phê bình quan niệm rằng phim phải là tác phẩm nghệ thuật tự hoàn chỉnh, có dụng ý riêng, không nên để phim bị "nhào nặn" từ phía người xem. Phim tương tác tựa như giải pháp lửng lơ, không độc lập với suy nghĩ của người xem như phim truyền thống, cũng không cho người xem quyền điều khiển trọn vẹn như trong trò chơi điện tử.

Bộ phim The Matrix từng bị phê phán kịch liệt vì không tự hoàn chỉnh. Nếu người xem không biết đến truyện tranh The Matrix, không theo dõi trang mạng, phim hoạt hình, trò chơi điện tử liên quan đến The Matrix sẽ không thực sự hiểu phim, đặc biệt là hai phần sau (The Matrix ReloadedThe Matrix Revolutions). Trước khi có ý tưởng phim tương tác, nội dung của The Matrix thực ra đã phụ thuộc chặt chẽ vào những "màn hình thứ hai".

Ý kiến ủng hộ phim tương tác cũng không vô lý. Màn hình thứ hai sẽ rất thú vị trong những lần xem phim kế tiếp. Đó là khi người xem được thưởng thức một câu chuyện khác, lần lượt phát hiện những khả năng khác, có những cảm nhận khác về các nhân vật. Nếu như trong những lần "xem lại", người xem không chỉ chọn lựa diễn biến, mà còn phát hiện những cảnh phim bổ sung, thể hiện nhiều góc nhìn, không hề có trên màn hình thứ nhất?

Đối với người xem, tác động lên truyện phim nhiều khi là nhu cầu rất thực. Các truyện phim do người hâm mộ viết lại là "chuyện thường ngày" trên mạng. Những người hâm mộ bộ phim Harry Potter từng khao khát thay đổi: Tại sao Hermione lại yêu Ron, thay vì yêu Harry? (Đây là điều mà chính tác giả J. K. Rowling đã tự nhận... sai lầm) Nếu như cụ Dumbledore vẫn sống? Nếu như thầy Snape vẫn sống?

Có những lý do để tin rằng màn hình thứ hai không là một thứ "phụ kiện", mà là... "quyền lực" của công chúng điện ảnh.

NGỌC GIAO


Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang