Hội chứng Google Glass

23/06/2014 12:02

Google từng dự định đưa sản phẩm Glass ra thị trường trong năm 2014. Nhưng cho đến nay, Google đang thận trọng kéo dài thời gian thử nghiệm Glass vì có nhiều dấu hiệu bất lợi: ngày càng nhiều người ghét Glass dù chưa hề dùng thử!

Phim ngắn Seeds (Hạt giống) xuất hiện ở Youtube nhân Ngày Của Mẹ (Mothers' Day) năm 2014, là một trong những nỗ lực của Google trong việc quảng bá Glass - sản phẩm đầu tiên hiện thực hóa khái niệm "kính mắt thông minh". Phim chỉ dài hai phút rưỡi, kể về chuyến đi từ Mỹ đến Ấn. Phim được quay hoàn toàn bằng Glass, luôn luôn thể hiện góc nhìn của nhân vật chính.

Tuy phim không lời, tuy phim không cho thấy diện mạo nhân vật chính, người xem dễ dàng đoán biết nhân vật chính là một người Ấn sống tại Mỹ, về thăm mẹ ở quê nhà và báo tin vui rằng mình sắp có con đầu lòng. Người xem dường như nhập vai nhân vật chính trong hành trình từ Mỹ qua Nhật, về Ấn, di chuyển bằng nhiều phương tiện: máy bay, tàu hỏa, xuồng máy, xích lô,... Người xem dễ dàng cảm nhận niềm vui của một người được gặp lại mẹ mình sau những ngày xa cách, được thưởng thức bữa ăn đầy ắp hương vị quê hương.

Phim Seeds là tác phẩm của Aneesh Chaganty - nhà làm phim 23 tuổi, người Mỹ gốc Ấn. Anh đã đeo kính Glass để quay phim trong chuyến đi thực sự từ Los Angeles, qua Tokyo, về đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình ở một vùng quê nước Ấn. Phim của Chaganty được Google tài trợ. Người vợ và người mẹ trong phim đều là diễn viên Ấn chuyên nghiệp.

Phim của Chaganty minh họa một trải nghiệm hoàn toàn mới. Nếu như những khoảnh khắc đáng nhớ trong đời người được ghi nhận theo cách giống như trong phim, hình ảnh được lưu giữ là vô giá! Ai không muốn có những báu vật ấy? Ai có thể ghét kính Glass, ghét người đeo kính Glass?

Thế nhưng số người ghét Glass tại Mỹ dường như ngày càng nhiều. Đó là nguyên nhân xuất hiện từ Glasshole, do ghép hai từ Glassasshole, ý nói "kẻ khốn kiếp đeo kính Glass". Bắt đầu có những nơi treo bảng cấm Glass!



Aneesh Chaganty và phim Seeds.

Nhà báo Pete Pachal (tạp chí Mashable, 1/4/2014) - người tham gia chương trình thử nghiệm Glass Explorers của Google - nhận xét rằng hiện có những phản ứng xã hội bất lợi cho Glass. Trong năm 2013, khi Pachal đeo kính Glass ở nơi công cộng, nhiều người ngạc nhiên và hỏi đó là thiết bị gì. Khi Pachal giải thích về Glass, người hỏi luôn tỏ ra ngạc nhiên, thú vị. Sang năm 2014, tình thế đang chuyển qua hướng ngược lại. Khi thấy Pachal đeo kính Glass, có người tỏ ra hiểu biết: "Này, đấy có phải là Google Glass?". Nhưng kèm theo câu hỏi là thái độ khó chịu, không thân thiện. Người hỏi cho rằng người đeo kính Glass đang tự tiện ghi hình người đối diện, xâm phạm quyền riêng tư.

Thái độ không thân thiện đối với người đeo kính Glass đôi khi chuyển thành hành động thô bạo, côn đồ. Nhà báo công nghệ Sarah Slocum (2/2014) kể rằng khi cô đeo kính Glass trong một nhà hàng ở San Francisco, nhiều người tỏ ra khó chịu. Có lẽ họ nghĩ rằng Slocum đang tự tiện quay phim (quả thực đúng như vậy!). Ai đó đã giật phăng kính Glass trên mặt cô. Slocum đã không thể lấy lại kính Glass của mình, mất luôn cả ví và điện thoại trong lúc giằng co!

Theo cuộc thăm dò tại Mỹ trong tháng 4/2014 của công ty nghiên cứu thị trường Toluna, có đến 72% số người được hỏi không muốn dùng Glass vì cho rằng đó là thiết bị xâm phạm quyền riêng tư.

Thấy trước điều này, Google (2/2014) từng khuyên những người thử nghiệm Glass rằng Glass có chức năng giống như điện thoại (cũng dùng để liên lạc, chụp ảnh, quay phim và chia sẻ thông tin), nên khi dùng Glass phải ứng xử giống như khi dùng điện thoại và cần kiên nhẫn giải thích để mọi người hiểu về Glass. Cũng như khi dùng điện thoại, người dùng Glass phải xin phép nếu muốn chụp ảnh, quay phim. Google cũng cẩn thận dặn dò thêm: người dùng Glass không nên quá... chú tâm vào Glass để không có hành động ngớ ngẩn, kỳ dị trong mắt mọi người.





Để cải chính cho Glass, Google giải thích những điều ngộ nhận về Glass ở trang Google Plus (21/3/2014):

Glass là phương tiện cực mạnh làm cho người dùng... phân tâm. Người dùng Glass chỉ bật Glass khi cần. Thay vì luôn cúi nhìn màn hình trên tay như khi dùng điện thoại hay máy tính bảng, Glass giúp người dùng nhìn thẳng vào cảnh vật trước mặt.

Glass luôn luôn ghi hình mọi thứ. Giống như màn hình điện thoại, bình thường màn hình Glass không hoạt động. Theo mặc định, việc ghi hình của Glass chỉ kéo dài mười giây. Người dùng có thể quy định lại, cho ghi hình lâu hơn. Ghi hình lâu khiến Glass nhanh chóng hết pin (thời lượng pin của Glass chỉ khoảng 45 phút).

Glass sắp xuất hiện trên thị trường. Glass với hình dạng hiện nay chỉ là sản phẩm thử nghiệm, nhằm thu nhận phản hồi từ người dùng. Sản phẩm cuối cùng có thể hoàn toàn khác. Khi ấy, người dùng có lẽ sẽ thấy Glass thử nghiệm hiện nay trông... tức cười như điện thoại di động trong thập niên 1980.

Glass giúp nhận diện khuôn mặt và làm nhiều điều khuất tất. Google đã quyết định không đưa chức năng nhận diện khuôn mặt vào Glass, trừ khi có giải pháp chế ngự tính tiêu cực của chức năng nhận diện. Google sẽ xem xét một cách thủ công từng ứng dụng gửi đến cửa hàng ứng dụng trước khi cho phép chạy trên Glass để giữ vững tôn chỉ của mình.

Glass che chắn tầm nhìn. Nhiều người khó chịu khi nghĩ đến màn hình đặt ngay trước mắt. Màn hình Glass thực ra ở trên mắt, chứ không ở trước mắt. Người dùng có thể nhìn thẳng cảnh vật phía trước, không cần nhìn vào màn hình Glass. Glass tự động tạo ảnh trên võng mạc.

Glass là thiết bị dùng để theo dõi một cách bí mật. Nếu muốn theo dõi người khác một cách bí mật, phải thiết kế thiết bị hoàn toàn khác. Hiện đã có nhiều máy ghi hình nhỏ gọn đeo trên người mà người khác khó phát hiện. Trong khi đó, Glass "lồ lộ" trên mặt người dùng và còn có đèn bật sáng khi hoạt động.

Người dùng Glass hiện nay là người giàu. Giá của Glass còn cao (1500 USD) nhưng không phải mọi người dùng Glass hiện nay đều là người mua Glass. Google đã tặng Glass cho nhiều người để họ giúp Google thử nghiệm.

Glass bị cấm dùng ở khắp nơi. Glass chỉ là cách thể hiện khác của màn hình điện thoại di động. Tại những nơi có yêu cầu tắt điện thoại di động, yêu cầu ấy tự nhiên có hiệu lực với Glass. Cũng như những quy tắc ứng xử với điện thoại di động dần dần hình thành từ khi điện thoại di động xuất hiện, Glass sẽ có những quy tắc ứng xử thích hợp và mọi người sẽ dần quen thuộc, thoải mái với Glass.

Glass kết liễu quyền riêng tư. Khi máy ảnh xuất hiện vào thế kỷ 19, mọi người cũng nói nó xâm phạm quyền riêng tư. Máy ảnh từng bị cấm ở nhiều nơi công cộng. Khi điện thoại bắt đầu có chức năng chụp ảnh, mối lo ngại tương tự cũng dấy lên, nhưng ngày nay mọi người đều quen thuộc với việc chụp ảnh bằng điện thoại.

Lý lẽ của Google có sức thuyết phục nhưng chuyển biến tâm lý của cộng đồng cần thời gian không ngắn. Ống kính ghi hình hiện nay hầu như được lắp đặt ở mọi nơi công cộng và mọi người đều bị theo dõi thường trực, kín đáo. Tuy nhiên, ống kính ghi hình được trang bị cho ai đó đứng giữa đám đông là chuyện không dễ chịu đối với mọi người chung quanh. Phản ứng thái quá đối với Glass của người không đeo Glass còn có phần đóng góp của cảm giác thua thiệt, ganh tỵ.

Nhiều người dùng thử Glass ao ước Glass trong tương lai giống như kính mắt bình thường, để không ai chú ý. Tuy nhiên, khi Glass lui vào "hoạt động bí mật", Glass trở nên... nguy hiểm hơn, biết đâu "hội chứng Glass" trong xã hội còn mạnh hơn, phức tạp hơn!

NGỌC GIAO

Bài liên quan:
Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang