Cơn địa chấn ở Google

05/07/2011 15:33

Ngày 28/6/2011, Vic Gundotra - thành viên của ban lãnh đạo Google - chính thức giới thiệu mạng xã hội Google+ (Google Plus). Tin đồn về dịch vụ mới của Google nhằm cạnh tranh với Facebook đã râm ran từ hơn một năm trước.

Google+ tuy còn trong giai đoạn thử nghiệm nhưng đã châm ngòi nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng về tương lai của mạng xã hội. Google+ là trường hợp hiếm hoi mà Google ở thế rượt đuổi so với đối thủ. Với Google, đây là cuộc cạnh tranh sống còn, không có đường lui.



Tại trang mạng The Official Google Blog, Gundotra giới thiệu khái quát mục tiêu của dự án Google Plus:

"Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của loài người. Không có ngày nào mà chúng ta không giao tiếp với những người khác bằng vẻ thân thiện, bằng tiếng cười, bằng lời thì thầm hoặc hò reo.

Ngày nay, thời gian chúng ta dành cho việc giao tiếp qua mạng ngày càng nhiều. Thế nhưng thực chất của tương tác trong đời thực cùng tất cả điều tinh tế của nó vẫn chưa thể diễn đạt tốt trong việc giao tiếp qua mạng do trở ngại từ những công cụ phần mềm. Giao tiếp qua mạng hiện nay vẫn còn bất tiện, có khi làm hỏng các mối quan hệ. Mục tiêu của chúng tôi là khắc phục sự bất tiện ấy".

Cách đặt vấn đề của Gundotra cho thấy Google đã xem xét lại thực chất khái niệm mạng xã hội. Sự dẫn nhập của Gundotra gián tiếp khẳng định Google có thể làm tốt hơn những gì Facebook đang làm trong việc đáp ứng nhu cầu giao tiếp qua mạng.

Giới truyền thông thường cho rằng Google là công ty thiên về công nghệ và những giải thuật, không có hiểu biết tinh tế về con người để hoạt động trong lĩnh vực mạng xã hội. Định kiến ấy dựa trên những thất bại mang tên Orkut, Wave và Buzz.

Google xây dựng mạng xã hội Orkut từ năm 2004, khi Facebook chỉ mới nhen nhóm trong cộng đồng sinh viên Harvard. Ngoại trừ thành công lạ thường tại Brazil và Ấn Độ, Orkut đang dần trôi vào quên lãng. Năm 2009, Wave được giới thiệu như một hình thái giao tiếp qua mạng hiệu quả, có thể thay thế hoàn toàn thư điện tử nhưng rốt cuộc Wave đã không thể thu hút người dùng và bị hủy bỏ. Cũng trong năm 2009, Google thêm chức năng Buzz vào dịch vụ Gmail, tạo nên phương thức giao tiếp vừa giống Facebook, vừa giống Twitter. "Mạng xã hội" do Buzz tạo ra từ danh bạ địa chỉ trong Gmail nhanh chóng bị tẩy chay vì người dùng cho rằng Google xâm phạm quyền riêng tư. Con người luôn có nhiều mối quan hệ mà họ muốn tách biệt và giữ kín.

Sau thất bại của Buzz, trong tháng 3/2010, Urs Hölzle - người phụ trách các trung tâm dữ liệu của Google, người tham gia Google từ những ngày khởi nghiệp - quyết định gửi thư đến ban lãnh đạo cùng toàn bộ nhân viên Google, đánh động về mối đe dọa từ Facebook. Hölzle chỉ rõ rằng tập quán sử dụng Internet của con người đang thay đổi, Facebook đang tạo ra lãnh địa riêng biệt, được che chắn kỹ càng, tách biệt với phần còn lại của Internet và lãnh địa ấy ngày càng lan rộng do số người dùng tăng nhanh. Với sự tích lũy dữ liệu về sơ đồ giao tiếp xã hội của từng con người cụ thể, Facebook sẽ là nguồn cung cấp thông tin hiệu quả hơn Google và sẽ tạo ra rất, rất nhiều mô hình kinh doanh mới. Ngày càng có nhiều tổ chức, công ty xây dựng "địa điểm giao dịch" trong lòng Facebook.


Urs Hölzle


Theo Hölzle, Facebook cuối cùng sẽ đánh bại Google. Lời cảnh báo được đưa ra khi Facebook đang có doanh thu vài tỉ USD, kém xa so với doanh thu vài chục tỉ USD của Google. Bức thư của Urs Hölzle được nhiều nhân viên của Google gọi là Urs-Quake, ví như một cơn địa chấn.

Hầu hết nhân viên kỳ cựu ở Google đều đồng ý với nhận định của Hölzle. Amit Singhal - chuyên gia hàng đầu tại Google về giải thuật tìm kiếm - cho rằng nếu muốn thực hiện tốt tôn chỉ "tổ chức thông tin của thế giới", Google cần phải có dữ liệu về từng người dùng cụ thể vì bởi không có giải thuật nào có thể quyết định chính xác thông tin là thích hợp hoặc không đối với người dùng nếu thiếu sự tích lũy dữ liệu về môi trường hoạt động của người dùng cụ thể, về hành vi của họ, về các mối quan hệ xã hội của họ.

Theo đề xuất của Vic Gundotra và Bradley Horowitz, vào tháng 5/2010, 50 nhà quản trị cấp cao của Google được triệu tập và chia nhóm để thảo luận những giải pháp vượt qua thách thức. Gundotra và Horowitz cũng đề xuất thực hiện một dự án lớn tác động đến tất cả dịch vụ của Google, nhằm tạo ra sự chuyển biến có tính chiến lược.

Larry Page và Sergey Brin - hai nhà sáng lập Google - quyết định giao nhiệm vụ lãnh đạo dự án mới cho Gundotra và Horowitz. Gundotra là người ra quyết định cuối cùng. Ngay sau khi chính thức trở lại chức vụ giám đốc điều hành Google, Page thông báo 25% tiền thưởng hàng năm cho mọi nhân viên của Google, bất kể làm việc ở vị trí nào, sẽ phụ thuộc vào mức độ thành công của dự án mạng xã hội mới.


Bradley Horowitz (trái) và Vic Gundotra.


Tòa nhà mang tên Building 2000 của Google (tọa lạc tại số 2000, đường Charleston, Mountain View, California) trở thành nơi tập trung hàng trăm kỹ sư của Google để thực hiện dự án.

Trên một bức tường bên trong Building 2000, Horowitz cho vẽ lại bức tranh Emerald Sea (biển xanh lục) do họa sĩ Đức Albert Bierstadt sáng tác năm 1878. Bức tranh thể hiện cơn sóng dữ ập vào bờ. Emerald Sea trở thành biệt danh của dự án mới. Horowitz mong muốn mọi kỹ sư làm việc trong Building 2000 hiểu rõ ý nghĩa của dự án: hoặc vượt qua cơn sóng dữ, hoặc bị nhấn chìm và không còn con đường nào khác.

Đến tháng 10/2010, sản phẩm của dự án Emerald Sea đã định hình, hoàn toàn dựa trên nền tảng HTML5, được triển khai thử nghiệm trong nội bộ Google. Gundotra nhớ lại: "Hầu như mọi kỹ sư tham gia dự án đều đứng quanh tôi khi tôi gửi thư mời đến các bộ phận của công ty từ máy tính xách tay của tôi vào tối hôm ấy". Đến sáng, máy chủ của nhóm Emerald Sea trở nên quá tải do 90% nhân viên Google trên toàn thế giới bắt đầu thử nghiệm mạng xã hội mới.


Bức tranh Emerald Sea được dùng như một lời cảnh báo ở Google.


Từ kết quả tốt đẹp của hai đợt thử nghiệm nội bộ, Gundotra quyết định thử nghiệm bên ngoài Google. Dịch vụ mạng xã hội mới chính thức lấy tên Google+. Dấu cộng thể hiện sự chuyển dịch của Google theo hướng cá thể hóa (go personal), thông qua sự hợp tác với người dùng (vế phải của dấu cộng được hiểu ngầm là You, tức người dùng cụ thể).

Đối với những người nhận được thư mời tham gia thử nghiệm, thủ tục đầu tiên là thiết lập tiểu sử (profile) để giới thiệu bản thân với Google. Giống như Facebook, tiểu sử người dùng trong Google+ gồm phần công khai và phần riêng tư. Sau khi thiết lập tiểu sử, người dùng chọn mục +You để bước vào mạng xã hội mới.

Khác với Facebook, Google xem sự phân loại các mối quan hệ là yếu tố nền tảng của mạng xã hội. Ngay từ đầu, người dùng phải thiết lập các Circle (nhóm quan hệ), phải tự lựa chọn từng người và đặt vào nhóm thích hợp. Các nhóm quan hệ có thể là gia đình, bạn học, đồng nghiệp, những người sơ giao, những người cùng sở thích hoặc những người nổi tiếng mà người dùng muốn dõi theo (follow). Gundotra nhận định: "Không thể đánh đồng mọi mối quan hệ. Trong cuộc sống, chúng ta chia sẻ chuyện này với bạn đồng học, chuyện khác với cha mẹ và hầu như không chia sẻ gì với sếp của mình. Hiện nay các dịch vụ mạng xã hội đều gắn nhãn cho mọi mối quan hệ là 'bạn'. Quan hệ bạn bè trực tuyến trở nên hời hợt như thức ăn nhanh". Shimrit Ben-Yair - người phát triển giải pháp Circle trong dự án Emerald Sea - giải thích: "Với Facebook, tôi có 500 bạn. Mẹ tôi cũng là bạn. Sếp của tôi cũng là bạn. Vì vậy, những gì tôi chia sẻ ở Facebook trở nên bất cẩn quá sức. Với Twitter, vì mọi chuyện đều công khai, tôi lại phải thận trọng quá thể. Nếu giải quyết vấn đề một cách tinh tế, đúng mực, Google sẽ tạo ra sự đột phá trong giao tiếp trực tuyến".

Nhóm Emerald Sea tin chắc rằng trong vài năm tới, khi hoàn thiện giải pháp Circle và thu hút được nhiều người dùng, Google+ sẽ đủ "thông minh" để giới thiệu với người dùng những người thích hợp cho từng nhóm quan hệ, thậm chí chủ động đề xuất những nhóm quan hệ mới xuất phát từ hiểu biết sâu sắc về mọi người dùng Google+.

Sau khi người dùng thiết lập các nhóm quan hệ, dòng thông tin sẽ liên tục "chảy" đến người dùng theo hai nhánh: StreamSparks. Nhánh Stream là thông tin xuất phát từ những thành viên trong các nhóm quan hệ, tương tự như dòng thông tin News feed trong Facebook. Thông tin trong nhánh Stream được tính điểm, xếp hạng để có thứ tự ưu tiên khác nhau tùy thuộc vào thái độ của người dùng đối với các nhóm quan hệ khác nhau.

Nhánh Sparks là thông tin do Google+ chủ động cung cấp dựa trên đoán nhận rằng người dùng sẽ quan tâm và muốn chia sẻ thông tin nhận được trong nhóm quan hệ nào đó. Sự đoán nhận của Google+ về những mối quan tâm của người dùng sẽ ngày càng chính xác nhờ tích lũy dữ liệu về phản ứng của họ đối với thông tin. Nhánh Sparks thể hiện rõ ưu thế của guồng máy tìm kiếm Google.

Không chỉ chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng cá thể hóa, Google+ giao tiếp với người dùng theo phong cách của Apple hơn là phong cách truyền thống của Google. Andy Herzfeld - người từng thiết kế giao diện cho máy tính Macintosh trong nhiều năm - sử dụng hoạt hình trong nhiều thao tác của Google+. Lạ thay, Page và Brin - vốn đam mê tốc độ xử lý, luôn kiên quyết từ chối những yếu tố "vặt vãnh" gây lãng phí thời gian - giờ đây lại tỏ ra thích thú với thiết kế của Herzfeld.

Ben-Yair khẳng định: "Đây là cuộc đua đường trường, không còn là sự thử nghiệm, không có lựa chọn nào khác. Nếu những trở lực xuất hiện, chúng tôi sẽ cố gắng vượt qua. Chúng tôi sẽ không bao giờ quay lại".

Google đã tự thay đổi bản thể một cách sâu sắc.

NGỌC GIAO


Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang