Bước đầu của phim VR

20/07/2015 16:40

Khoảng năm năm trước, trào lưu phim 3D (phim ảnh nổi) trở nên sôi động nhờ thành tựu của kỹ thuật số. Sau phim 3D, phim VR (Virtual Reality Film) có lẽ cũng sẽ dần phổ biến. Trong hiện tại, phim VR chỉ mới chập chững những bước đầu tiên.

"Tôi đứng sát mép vách đá, nhìn xuống con sông Colorado chảy cuồn cuộn ở sâu bên dưới. Những sắc màu đỏ cam rực rỡ từ chân trời phía Tây Nam chói lòa trên mặt đá. Cảnh vật tuyệt đẹp, sắc nét, nhưng hầu như tĩnh lặng. Tôi nghiêng đầu nhìn xuống phía bên phải, bất ngờ trông thấy hai người nhảy vụt khỏi vách đá, lao nhanh xuống vực. Họ bung dù sau vài giây và dần dần mất hút trong thung lũng. Nếu tôi không quay đầu nhìn xuống, tôi đã không thấy được cảnh nhảy dù như vậy". Nhà bình luận Daniel Terdiman (tạp chí VentureBeat, 18/3/2015) mô tả những gì anh thấy khi dùng thử thiết bị VR (Virtual Reality - thực tại ảo) mang tên Oculus Rift của công ty Oculus VR.

Với màn hình hiển thị hai hình ảnh hơi khác nhau cho hai mắt, thiết bị VR tạo ra hình ảnh có chiều sâu sống động, cho người dùng cảm giác như đang đứng tại chỗ của cảnh quay. Nhờ bộ cảm biến nhận biết cử động của đầu người dùng, thiết bị luôn hiển thị hình ảnh phù hợp với góc nhìn. Người dùng có thể quan sát cảnh rộng bằng cách quay đầu nhìn qua lại, nhìn xuống và nhìn lên.

Hình ảnh mà Terdiman quan sát khi dùng thiết bị VR được quay tại một khe vực trong vùng hoang mạc Moab của bang Utah (U.S.). Nhờ thiết bị VR, Terdiman còn có dịp theo dõi cuộc trình diễn của Paul McCartney - cựu thành viên của ban nhạc The Beatles lừng danh - vào tháng 8/2014 tại San Francisco: "Tôi nhìn thẳng vào Paul McCartney đang chơi bài 'Live and Let Die'. Khi quay đầu, tôi có thể thấy hàng chục ngàn khán giả trên khán đài của sân vận động Candlestick Park, như thể tôi đang đứng ngay dưới ánh đèn sân khấu".

Trong tháng 3/2015, những người tham dự liên hoan South by Southwest (liên hoan điện ảnh, âm nhạc và công nghệ tương tác) tại bang Texas (U.S.) đều tò mò khi thấy một túp lều hình bán cầu trong khu vực triển lãm. Diễn viên Bill Irwin - người lồng tiếng cho người máy TARS trong phim Interstellar (giải Oscars 2015 dành cho phim có kỹ xảo hay nhất) giới thiệu với mọi người công dụng của túp lều: "Các bạn sẽ được viếng thăm con tàu vũ trụ mà chúng tôi đã dùng cho phim Interstellar bằng công nghệ thực tại ảo. Nếu bạn từng mơ đến chuyến thám hiểm không gian trên con tàu của NASA, đây là cơ hội để bạn biết được cảm giác sống trong vũ trụ như thế nào. Bạn sẽ không thể tin được rằng mình thực ra chỉ ngồi yên một chỗ".

Trong túp lều có ba chiếc ghế bành đặc biệt. Sau khi khách tham quan ngồi vào ghế, người hướng dẫn giúp khách đeo vào mắt thiết bị Oculus Rift. Hình ảnh bên trong con tàu xuất hiện trên màn hình thiết bị cùng lúc với giọng nói phát ra từ tai nghe: "Xin chào mừng các nhà phi hành". Ghế bắt đầu nghiêng ngửa để tạo tư thế phù hợp với góc nhìn của màn hình Oculus Rift. Đó là góc nhìn của nhà phi hành trên tàu trong tình trạng không trọng lực. Người xem cảm thấy mình đang ở trong một khoang nhỏ, có thể quay nhìn bốn phía để thấy trước mắt những bảng điều khiển và cửa sổ nhìn ra khoảng không vũ trụ. Khi giọng nói hướng dẫn mời qua thăm khoang kế bên, cánh cửa trượt của khoang mở ra, cho thấy một lối đi hẹp. Người xem có cảm giác mình đang trôi theo lối đi đó. Do tình trạng không trọng lực, các vật dụng của nhà phi hành (bút, sổ tay,...) đều trôi lơ lửng. Lewis Bennett, một khách tham quan, kể rằng anh đã nhiều lần định giơ tay chạm vào các vật thể trước mặt. "Tôi cố gắng kềm chế, giữ yên tay vì biết rằng người ta có thể đang nhìn mình. Thật tuyệt, tôi có cảm giác mình thực sự ở trên tàu". Chuyến tham quan kết thúc sau ba phút. Người hướng dẫn giúp khách tham quan tháo thiết bị khỏi mắt và nói: "Chào mừng quý khách trở về Trái Đất".



Tham quan tàu vũ trụ trong phim Interstellar bằng thiết bị VR.


Trong tương lai gần, khách tham quan sẽ không cần cố gắng "giữ yên tay" vì chính cử động tay có thể giúp họ di chuyển trong không gian ảo. Công nghệ hiện tại cũng cho phép theo dõi tròng mắt của người dùng thiết bị VR để thay đổi góc nhìn một cách phù hợp. Nhờ vậy, người dùng không phải quay đầu quá nhiều.

Hầu như những người từng trải nghiệm khả năng tinh tế trong việc mô phỏng thực tại của công nghệ VR đều đồng ý rằng điện ảnh sẽ là lĩnh vực ứng dụng VR sôi nổi nhất. Ứng dụng VR vào điện ảnh gần như là điều hiển nhiên. Nhiều người cho rằng điều "hiển nhiên" ấy sẽ tạo ra bước tiến mới, chiều kích mới cho điện ảnh, quan trọng như từ phim câm chuyển sang phim có đối thoại.

Các nhà sản xuất thiết bị VR như Oculus VR, Samsung,... nhanh chóng thành lập xưởng phim hoặc tài trợ cho xưởng phim thích hợp để làm phim VR thử nghiệm và giới thiệu sản phẩm tại các liên hoan phim (Sundance, Cannes,...) nhằm thu hút sự chú ý của công nghiệp điện ảnh. Thiết bị thực tại ảo như Oculus Rift hoặc Samsung Gear VR sẽ không thể bước vào cuộc sống, không thể đi vào từng gia đình nếu như không thường xuyên có nội dung mới cung cấp cho người dùng. Cũng như mọi sản phẩm có tính đột phá, sự phổ biến thiết bị VR còn đang ở giai đoạn nghịch lý. Nhu cầu đối với thiết bị VR chưa có vì chưa có nhiều nội dung để thưởng thức. Nội dung VR chưa có nhiều vì chưa có người dùng thiết bị VR.

Các hãng phim lớn tuy có ấn tượng mạnh với phim VR nhưng vẫn dè dặt vì quy trình làm phim VR chưa định hình, những quy tắc làm phim truyền thống đều phải được xem xét lại. Các nhà làm phim độc lập, vốn rất thích "phá cách", lại ngần ngại vì máy quay phim VR (còn gọi là "máy quay phim 360 độ") hiện còn rất đắt, phần mềm dàn dựng phim VR đòi hỏi máy tính mạnh. Nếu không đủ mạnh, máy tính không thể lắp ghép chính xác hình ảnh được ghi nhận đồng thời từ nhiều ống kính trong máy quay phim 360 độ. Tuy nhiên, tình thế đang dần thay đổi nhờ sự xuất hiện các công ty cho thuê máy quay 360 độ và cung ứng dịch vụ dàn dựng phim VR. Phải cần thời gian nhiều hơn nữa cho đến khi các phương tiện làm phim VR ở trong tầm tay của những người làm phim nghiệp dư.


Máy quay phim VR (nhãn hiệu Jaunt) được dùng thử nghiệm tại Hollywood.


Google đã tiến hành một cách tiếp cận riêng với phim VR: bắt đầu từ điện thoại và bắt đầu từ phim hoạt hình.

Cuối năm 2012, trung tâm nghiên cứu ATAP (Advanced Technology And Products) của Google mời Jan Pinkava - nhà biên kịch và đạo diễn từng làm việc cho xưởng hoạt hình Pixar - cộng tác làm phim hoạt hình VR. Pinkava từng tham gia thực hiện nhiều phim hoạt hình thành công của Pixar (A Bug's Life, Toy Story 2, Monsters, Inc.Ratatouille). Với sự hướng dẫn của Pinkava, trung tâm ATAP đã hoàn thành phim hoạt hình ngắn Windy Day và phát hành trên điện thoại. Windy Day là phim hoạt hình 3D nhưng có sự khác biệt lớn: người xem có thể xoay điện thoại để thay đổi góc nhìn của cảnh phim: quay nhìn xung quanh, nhìn lên và nhìn xuống. Nhờ vậy, người xem có thể theo dõi những diễn biến thú vị ở các nhân vật phụ. Để trở lại với mạch chính của phim, người xem cần xoay điện thoại hướng về nhân vật chính. Chỉ khi đó, truyện phim mới tiếp diễn. Phim Windy Day chứng tỏ trên màn hình nhỏ bé của điện thoại, không gian của phim có thể trở nên rộng lớn lạ thường.

Trung tâm ATAP cũng cộng tác với họa sĩ Glen Keane để thực hiện phim hoạt hình VR ngắn theo phong cách 2D, mang tên Duet. Duet tựa như một bài thơ về tình bạn thời thơ ấu và tình yêu tuổi trưởng thành. Phim được phát hành trên thiết bị Android và cả thiết bị iOS (iPhone/iPad).


Họa sĩ Glen Keane.


Keane là họa sĩ kỳ cựu, từng làm việc lâu năm ở xưởng hoạt hình Disney. Tên tuổi của Keane gắn liền với các phim nổi tiếng của Disney (The Little Mermaid, Beauty and the Beast, Aladdin, Pocahontas, Tarzan,...) với vai trò họa sĩ tạo hình và họa sĩ diễn xuất chính. Khi rời Disney, Keane muốn tìm công việc mới, đáp ứng niềm đam mê của ông đối với giấy vẽ và bút chì. Việc làm phim hoạt hình VR đến với Keane thật bất ngờ:

"Lúc ấy tôi đang tìm kiếm một khu vườn sáng tạo mới, đang tìm hiểu một số khả năng, có thể điểm đến của tôi là một xưởng phim truyền thống nào đó ở Hollywood. Tôi bỗng nhận được lời mời đến Google, gặp Regina Dugan, người đứng đầu trung tâm ATAP. Tôi từng làm việc ở Silicon Valley một lần trong thập niên 1980. Tôi rất vui khi có dịp trở lại nơi ấy, làm việc với thế giới sáng tạo hoàn toàn khác, bên ngoài Hollywood. Tôi hồi hộp muốn biết họ đang định làm gì.

Khi họ đưa ra chiếc điện thoại, ý nghĩ đầu tiên đến với tôi là sự thất vọng. Màn hình điện thoại quá nhỏ, trong khi tôi chỉ quen thuộc với màn ảnh rộng. Tôi nói với Regina: 'Chị muốn tôi làm gì với chiếc điện thoại?'. Cô ấy đáp: 'Tôi chỉ muốn nhờ anh sáng tạo điều gì đó thật đẹp đẽ và giàu cảm xúc'. 'Thế thì quá tốt rồi, nhưng liệu có vấn đề tiềm ẩn?'. 'Không có vấn đề tiềm ẩn nào cả. Chúng tôi làm việc này để tạo nên một món quà của Google tặng cho người dùng. Chúng tôi mong anh sáng tạo hết mình, từ đó thúc đẩy chúng tôi sáng tạo hết mình về mặt công nghệ'.

Thế là tôi bắt đầu phác ý tưởng. Một cách tự nhiên, tôi tạo dựng ý tưởng của mình bằng bút chì, thứ công nghệ cũ kỹ, thứ bản năng của những người vẽ hình bằng than trong hang động. Tôi tham gia vào sự kết hợp nghệ thuật cũ với công nghệ mới.

Việc làm phim hoạt hình hiện nay thường được thực hiện trong những xưởng lớn, có thể cần đến 600 người cho một phim. Tại Google, tôi làm việc với một nhóm dự án nhỏ, chỉ 20 người, với thời hạn một năm. Loại phim mà chúng tôi thực hiện sẽ không thể thay thế phim hoạt hình chiếu tại rạp nhưng tôi nghĩ nó sẽ tác động lên cách kể chuyện. Qua phim Duet, tôi học được cách kể chuyện theo mạch dài, không cần cắt cảnh nữa vì nếu bạn muốn xem cận cảnh, bạn chỉ việc phóng lớn hình ảnh. Với Duet, không phải cân nhắc về góc nhìn của cảnh. Tôi chỉ đơn giản vẽ nhân vật ở góc nhìn mà tôi chọn. Người xem có thể chọn các góc nhìn khác để theo dõi. Công nghệ thật tuyệt vời.

Nhưng phải thừa nhận rằng cho người xem sự lựa chọn như vậy lúc đầu là điều đáng sợ đối với tôi. Với phim Duet, chúng tôi tựa như phải trao quyền điều khiển ống kính cho người xem. Điều này luôn khiến tôi không thể yên tâm rằng người xem sẽ có được cảm xúc cần thiết qua góc nhìn thích hợp nhất. Trong khi tôi còn trong tình trạng dùng dằng, Jan Pinkava - người thực hiện phim Windy Day - cố gắng khuyến khích tôi thích nghi hoàn toàn với công nghệ mới. Tôi nói với anh: 'Tôi biết rõ câu chuyện hơn người xem. Tôi cần điều khiển góc nhìn cho họ'. Anh ấy nói ngược lại: 'Không nên, không nên. Điều quan trọng là họ phải được tự do'.

Tôi không thể ép buộc người xem chọn góc nhìn của mình, tôi chỉ có thể thuyết phục họ nhìn nhân vật theo cách như tôi mong muốn. Điều này gần giống như chuyến đi thuyền trong đêm mang tên 'Pirates of the Caribbean' tại công viên Disneyland. Ta đưa du khách lên thuyền để thực hiện cuộc hành trình tạo cảm xúc theo kịch bản đã định, nhưng khi ở trên thuyền, du khách tự do quan sát chung quanh, nhìn lên, nhìn xuống. Du khách cảm thấy được tự do nhưng ta vẫn phải dẫn dắt câu chuyện".

Keane tự do diễn xuất nhân vật với góc nhìn như ông muốn, đội ngũ của nhóm làm phim thực hiện mọi việc cần thiết để người xem thấy được diễn xuất ấy ở góc nhìn khác, do họ lựa chọn. Keane đã dùng bút chì và giấy để vẽ trên 10.000 hình cho phim Duet.




Phim Duet.


Google đã kết hợp tài năng "cổ điển" của Keane với công nghệ VR mới mẻ. Chắc chắn Google hiểu rõ rằng nghệ thuật đích thực không bao giờ cũ. Để thành công, phim VR trước hết phải là tác phẩm nghệ thuật.

Trong xưởng phim non trẻ của công ty Oculus VR có một biểu ngữ được treo trang trọng trên tường: "Story is King" (câu chuyện mới là yếu tố quyết định).

NGỌC GIAO

Bài liên quan:
Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang