Bí mật Titanic 3D

21/03/2013 17:40

Đầu tháng 4/2012, sau 15 năm kể từ ngày trình chiếu đầu tiên (12/1997), phim truyện Titanic của đạo diễn James Cameron trở lại màn ảnh rộng, trở thành phim 3D. Làm sao một phim "phẳng" lại có thể trở thành phim nổi?

Phim Titanic 3D xuất hiện kịp thời trên màn bạc nhân dịp tưởng niệm 100 năm thảm họa Titanic (tàu Titanic khổng lồ chìm xuống Đại Tây Dương ngày 15/4/1912 ngay trong lần chở khách đầu tiên). Việc chuyển đổi phim Titanic từ 2D thành 3D tiêu tốn 18 triệu USD, được thực hiện trong hai năm với đội ngũ gồm 450 người. Đạo diễn James Cameron hướng dẫn và giám định việc chuyển đổi 260.000 khung hình của phim. Kết quả thực tế đã không phụ lòng những người làm phim: Titanic 3D thu được trên 200 triệu USD chỉ sau 12 ngày, nhận được nhiều lời khen ngợi nhiệt tình của giới phê bình và của khán giả, kể cả những người đã xem nhiều lần phim Titanic 2D. Titanic 3D dường như tạo ra cửa sổ nhìn vào thế giới thực, người xem không chỉ cảm nhận rõ ràng về chiều sâu của cảnh phim, mà còn phát hiện nhiều chi tiết mới so với Titanic 2D.

Một cảnh trong phim Titanic (1997). Chiếc tàu là mô hình thực. Biển, khói và bầu trời tạo bởi máy tính.

Là người khởi xướng trào lưu phim 3D hiện đại với siêu phẩm Avatar (2009), đạo diễn Cameron nhiều lần chỉ trích gay gắt việc chuyển đổi phim 2D thành 3D. Cameron từng khẳng định phim 3D phải được thực hiện ngay từ đầu bằng máy quay phim 3D (máy quay có hai ống kính gần nhau), cùng với việc hoạch định góc quay thích hợp. Ông cho rằng những phim 3D dựa vào sự chuyển đổi có tính máy móc từ phim 2D luôn tạo ra trải nghiệm tồi tệ nơi người xem, làm xói mòn thị trường phim 3D. Quả thực, sau thành công vang dội của phim Avatar, những phim 3D gấp gáp "chạy theo phong trào" là nguyên nhân làm cho lợi nhuận của dòng phim 3D có xu hướng suy giảm.

Với kế hoạch chi tiết cho dự án Titanic 3D cùng dẫn chứng cụ thể, hai chuyên gia William Sherak (chủ tịch Công ty StereoD) và Rob Legato (người chỉ đạo kỹ xảo hình ảnh của Titanic 2D ngày trước) đã thuyết phục được Cameron. Sherak và Legato đều nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi là vấn đề nghệ thuật hơn là kỹ thuật, cần có sự hướng dẫn của đạo diễn phim, cần có sự cân nhắc trên từng cảnh, thực hiện thích hợp cho từng khung hình. Mục tiêu tối thượng là tạo cảm giác tự nhiên về chiều sâu của phim.

Là người kỹ tính, Cameron tự đánh giá dự án khi hoàn tất: việc chuyển đổi đã tạo ra một phim... 2,9D. Giải thích về Titanic 3D, quan điểm của Cameron không hẳn đã thay đổi: "Ở đây không có cây đũa thần nào, không có phần mềm máy tính tuyệt diệu nào có thể chuyển đổi tự động phim 2D thành 3D. Chúng tôi phải làm lại tất cả".

Làm lại tất cả? Chưa có lời giải thích chi tiết, chính thức nào về quá trình chuyển đổi Titanic từ 2D thành 3D. Không có bột, sao gột nên hồ? Những người ham thích công nghệ phim 3D phải tìm manh mối ở những phim khác, chẳng hạn từ sự giải thích của Công ty Disney về việc chuyển đổi phim hoạt hình Lion King (Vua Sư tử, 1994) thành phim 3D. Lion King 3D được trình chiếu cuối năm 2011 và thành công ngoạn mục: thu được trên 30 triệu USD chỉ trong một kỳ nghỉ cuối tuần, hơn mọi phim được chiếu cùng thời điểm.

Trở lại nguyên lý, phim 3D tạo ra hai ảnh ít nhiều khác biệt từ mỗi khung hình, một ảnh dành cho mắt phải, một ảnh dành cho mắt trái, nhằm mô phỏng cảm nhận của mắt đối với cảnh vật thực. Người xem phim 3D thấy một phần hình ảnh như ở phía trước màn chiếu, phần khác như ở xa hơn màn chiếu, tùy theo độ khác biệt giữa ảnh phải và ảnh trái ở từng phần của hình. Màn ảnh càng lớn, cảm giác về ảnh nổi càng rõ.

Với phim được quay bằng máy quay 3D, hai ống kính của máy quay thu nhận hai ảnh khác nhau, tạo thành ảnh phải và ảnh trái. Với phim hoạt hình CG (Computer Graphics), để có ảnh phải và ảnh trái, chỉ cần đặt hai "ống kính" gần nhau trong không gian ba chiều ảo của máy tính. Do vậy, những phim hoạt hình CG như Toy Story (Câu chuyện đồ chơi, 1995) dễ dàng được chuyển thành phim 3D. Những người làm phim CG dùng máy tính mở lại các tập tin lưu trữ cảnh phim, tạo thêm "ống kính" thứ hai và tạo ảnh mới từ đó. Kết quả là một loạt khung hình mới khác biệt đôi chút so với phim 2D ban đầu.

Một cảnh trong phim Titanic (1997). Chiếc tàu là mô hình thực. Hành khách là mô hình ảo.

Để tạo ảnh nổi từ ảnh phẳng, người ta bắt đầu với việc xác định độ sâu của từng phần trong ảnh phẳng, tựa như vẽ những đường đẳng trị trên bản đồ địa hình để thể hiện độ cao ở những vị trí khác nhau. Ở mỗi độ sâu, phải tạo ra sự khác biệt thích hợp giữa ảnh phải và ảnh trái. Cách tạo ra sự khác biệt đơn giản nhất là xê dịch phần hình đang xét. Khi một phần hình bị xê dịch, khoảng trống nhỏ lộ ra được lấp lại nhờ sao chép những điểm ảnh lân cận.

Việc tạo sự khác biệt giữa ảnh phải và ảnh trái từ một hình duy nhất ban đầu có thể tự động hóa. Phần mềm máy tính tự động nhận diện những lớp có độ sâu khác nhau trên hình: phần giữa ở trước phần biên, phần sáng ở trước phần tối,... Suy xét cứng nhắc của máy tính cho phép chuyển đổi nhanh chóng, nhưng thường tạo ra kết quả "ngoài sức tưởng tượng" về cảm giác chiều sâu tai hại cho mắt!

Việc chuyển đổi phim Lion King từ 2D thành 3D được thực hiện trên từng khung hình. Chính con người, chứ không phải phần mềm, quyết định độ sâu của từng phần trên hình, tùy thuộc vào yêu cầu diễn đạt cảm xúc của cảnh phim. Các chuyên gia của Disney gọi đó là kịch bản chiều sâu(depth script). Xác định kịch bản chiều sâu trở thành công đoạn có tính nghệ thuật giống như việc biên soạn nhạc đệm. Phần mềm tinh tế của Disney giúp tạo ra sự khác biệt giữa ảnh phải và ảnh trái theo một loạt tham số, không chỉ phụ thuộc vào độ sâu của phần hình đang xét và không chỉ là sự xê dịch đơn giản. Các tham số như vậy được tinh chỉnh nhiều lần dựa vào việc giám định kết quả nhờ mắt người.

Titanic 3D đã được tạo ra theo phương pháp tương tự Lion King 3D? Những người am hiểu công nghệ 3D cho rằng dự án Titanic 3D có thể đã dùng phần mềm tinh vi hơn, tương tự phần mềm Mocha. Có lẽ dự án Titanic 3D đã tạo ra những mô hình ảo (mô hình trong không gian ba chiều ảo của máy tính) khớp với các vật thể hiện diện trong hình phẳng. Việc so khớp vị trí và kích thước của mô hình ảo với vật thể trong hình phẳng qua nhiều khung hình giúp xác định vị trí của ống kính trong không gian ảo. Từ đó xác định được vị trí của ống kính thứ hai trong không gian ảo và tạo ảnh tương ứng với ống kính thứ hai bằng phép nội suy từ ảnh ban đầu (tương ứng với ống kính thứ nhất).

Nếu cách thức như vậy được lựa chọn để tạo ra Titanic 3D, đó là phương án vất vả vì đạo diễn Cameron thường không thích giữ yên vị trí ống kính khi quay phim. Tuy nhiên, nhóm dự án Titanic 3D không chỉ có trong tay những khung hình phẳng. Diễn viên trong Titanic thường xuyên diễn xuất trước màn xanh. Khung hình trong phim thường là sự lắp ghép trên máy tính giữa cảnh quay trước màn xanh với cảnh quay trên mô hình thực của tàu Titanic. Mô hình thực của toàn bộ tàu Titanic theo tỉ lệ 1/20 được dùng trong nhiều cảnh quay. Những người làm phim đã dùng công cụ trắc địa để so khớp vị trí ống kính trong cảnh quay có diễn viên và trong cảnh quay trên mô hình (chẳng hạn, cảnh lãng mạn nổi tiếng trong phim với hai nhân vật Jack và Rose đứng ở mũi tàu). Nhóm dự án Titanic 3D đã mất gần một năm để xem xét toàn bộ dữ liệu lưu trữ của việc làm phim Titanic ngày trước. Có lẽ mô hình thực của tàu Titanic nay được thay thế hoàn toàn bằng mô hình ảo tinh tế khi lắp ghép lại các cảnh quay dùng cho Titanic 3D.

Mô hình thực (1/20) dùng trong phim Titanic (1997).

Được thực hiện vào thập niên 1990, Titanic 2D đã dùng những công nghệ máy tính mới nhất vào lúc ấy. Titanic 2D có sẵn nhiều yếu tố của phim CG. Trong phim, sóng nước và hành khách trên tàu phần lớn được tạo ra trên máy tính. Mô hình ảo của tàu Titanic từng được dùng trong vài cảnh của Titanic 2D. Trong cảnh đuôi tàu dựng đứng giữa bầu trời đêm, con tàu, sóng nước và những người rơi xuống từ trên cao đều là mô hình ảo (FXGuide).

Trong trào lưu chuyển đổi phim 2D thành 3D, Titanic là trường hợp đặc biệt hơn là ví dụ tiêu biểu.

NGỌC GIAO

Ý kiến bạn đọc (0)
Tên   Email

Lên đầu trang